BÊ TÔNG

CẤP ĐỘ BỀN CỦA BÊ TÔNG

Cấp độ bền của bê tông là gì? Có những tiêu chuẩn nào đưa ra cho loại bê tông cốt thép. Đây là câu hỏi mà nhiều người thắc mắc và trong khuôn khổ bài viết này công ty cổ phần đầu tư thương mại xây dựng việt đức xin chia sẻ với các bạn một số thông tin để giúp các bạn giải đáp được những thắc mắc này.

 

cap-do-ben-cua-be-tong

 

CẤP ĐỘ BỀN CỦA BÊ TÔNG LÀ GÌ

Về bản chất, cấp độ bền có mối liên quan với mác bêtông theo TCVN 5574: 1991. Do thực tế hiện nay khái niệm “mác bêtông” vẫn đang được sử dụng nhiều trong các bản vẽ kỹ thuật và làm căn cứ tính toán vật liệu trong thanh quyết toán công trình nên để tiện sử dụng, trong tiêu chuẩn TCXDVN 356: 2005 đưa ra bảng tương quan giữa cấp độ bền chịu nén và chịu kéo của bêtông với mác bêtông.

Khái niệm cấp độ bền bê tông (B) đưa ra trong tiêu chuẩn bê tông cốt thép hiện hành TCXDVN 356 : 2005 là bước đệm thay thế cho mác bê tông (M). Quan hệ giữa B và M được quy định trong tiêu chuẩn này thông qua hệ số biến động cường độ, lấy mặc định bằng 0,135.

Sự chênh lệch giữa B và M vào khoảng 10 MPa tùy thuộc vào cấp độ bền, và việc đánh giá cấp độ bền B hiện nay còn thông qua mác bê tông M. Nhiều ý kiến xem điều này có thể chấp nhận được. Tuy nhiên, một số ít cho rằng đánh giá như vậy có thể chưa kinh tế vì áp dụng cho rất nhiều dự án trong phạm vi cả nước, hạn chế sự đổi mới/cải tiến công nghệ sản xuất bê tông. Vì vậy, bài báo này làm rõ rằng việc đánh giá cường độ bê tông khi kết cấu được thiết kế theo tiêu chuẩn TCXDVN 356 : 2005, hiện nay vẫn còn phải dựa vào mác bê tông trừ khi người thiết kế có quy định khác. Bài báo cũng trình bày sự khác nhau giữa đánh giá cường độ bê tông theo tiêu chuẩn Việt Nam với tiêu chuẩn Anh và tiêu chuẩn châu Âu là những tiêu chuẩn có chung khái niệm xác suất đảm bảo cường độ đạt trên 95% như TCXDVN 356:2005.

Do giá trị của cấp độ bền (trong TCXDVN 356: 2005) và giá trị của các mác (trong TCVN 5574: 1991) được quy định chỉ ở những mức thang nhất định, nên trong bảng 1 có thể xảy ra trường hợp hai cấp độ bền gần nhau nhưng quy đổi ra cùng một mác và ngược lại, một mác nhưng tùy vào cường độ của mẫu thử mà có cấp độ bền khác nhau. Điều này cho thấy để quy đổi từ mác sang cấp độ bền phải căn cứ vào cường độ trung bình của mẫu thử và do việc sử dụng mác bêtông trong dự toán vẫn còn nhiều nên để có hiệu quả về kinh tế thì khi thiết kế, nên dùng các cấp cường độ B12,5, B27,5, B55, B80 thay vì dùng B10, B25, B50 và B75.

Bê tông cốt thép (BTCT) có một số ưu việt hơn so với các loại vật liệu xây dựng khác như: (a) có thể tạo thành những kết cấu có các hình dạng khác nhau theo yêu cầu kiến trúc, (b) có đặc tính bền lâu (durability) rất tốt, với bề dày lớp bê tông bảo vệ cốt thép thích hợp kết cấu BTCT sẽ có tuổi thọ cao, thậm chí ở các điều kiện khí hậu và môi trường khắc nghiệt, ăn mòn mạnh, (c) có khả năng chống cháy tốt, với lớp bê tông bảo vệ dày hợp lý thì kết cấu BTCT được xem là kết cấu chịu lực chống cháy tốt nhất và (d) có giá thành rẻ, đặc biệt là giá bảo trì ít hơn so với kết cấu thép [1]. Vì vậy, sử dụng bê tông tươi trong xây dựng ở nước ta hiện nay rất phổ biến và đạt trình độ tương đối cao so với khu vực.

Cấp độ bền bê tông theo tiêu chuẩn Eurocode 2 được ký hiệu là C, ví dụ C30/37 trong đó 30 là trị số tính bằng MPa của cường độ chịu nén đặc trưng mẫu trụ tuổi 28 ngày fck (fck = 30 MPa) và 37 là trị số cường độ chịu nén đặc trưng mẫu lập phương cũng 28 ngày tuổi fck, cub (fck, cub = 37 MPa). Khái niệm cường độ đặc trưng trong tiêu chuẩn châu Âu Eurocode 2 cũng giống như BS 8110 hay TCXDVN 356:2005, nghĩa là các yêu cầu đảm bảo về cường độ fck với xác suất đảm bảo lớn hơn 95%.

Việc đánh giá cường độ bê tông phải tuân theo EN 206-1 [9] và các tiêu chuẩn liên quan. Yêu cầu về trung
bình các mẫu thử của EN 206-1 cao hơn so với BS 5328-4:1990 . Tuy nhiên, yêu cầu về cường độ mẫu thử thấp nhất lại thấp hơn so với tiêu chuẩn Anh. Ví dụ, bê tông cấp C30/37, có cường độ đặc trưng chịu nén mẫu trụ fck là 30 MPa, cường độ
đặc trưng chịu nén mẫu lập phương fck, cub bằng 37 MPa. Để đánh giá, tất cả các mẫu lập phương được lưu 28 ngày theo quy định của tiêu chuẩn áp dụng. Cường độ chịu nén từ các mẫu lập phương cạnh 150 mm được tính toán như sau:
Các phân tích đã trình bày cho thấy đánh giá cường độ bê tông khi kết cấu được thiết kế theo tiêu chuẩn TCXDVN 356:2005, hiện nay vẫn còn phải dựa vào mác bê tông trừ khi người thiết kế có quy định khác. Việc này vẫn phải tiến hành như vậy cho đến khi có tiêu chuẩn hay hướng dẫn kỹ thuật về đánh giá cường độ bê tông theo cấp độ bền.

Đánh giá cường độ bê tông theo BS 8110:1997 (kết cấu thiết kế theo BS 8110:1997) phải căn cứ vào BS 5328-4:1990 và các tiêu chuẩn liên quan. Sự chênh nhau giữa cường độ chịu nén đặc trưng fcu (“cấp độ bền”) với cường độ trung bình các mẫu thử fcm (“mác bê tông”) lớn nhất là 3 MPa tùy thuộc vào cấp độ bền.

Đánh giá cường độ bê tông theo Eurocode 2 (kết cấu thiết kế theo EN 1992-1:2004) phải căn cứ vào EN 206-1 và các tiêu chuẩn liên quan. Sự chênh nhau giữa cường độ chịu nén đặc trưng mẫu lập phương fck, cub (“cấp độ bền”) với cường trung bình các mẫu thử lập phương fcm, cub (“mác bê tông”) là 4 MPa.

Hi vọng quý khách sẽ có thêm nhiều thông tin về cấp độ bền của bê tông thương phẩm, nếu có nhu cầu sử dụng các loại bê tông tại hà Nội hãy liên hệ với công ty cổ phần đầu tư thương mại xây dựng việt đức 0985 388 999

 
CÁC TIN KHÁC